A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM TỐT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM ĐỐI VỚI HỌC SINH LỚP BỐN

TÊN ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP LÀM TỐT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM ĐỐI VỚI HỌC SINH LỚP BỐN

 

1.   Đặt vấn đề

1.1. Lí do chọn đề tài:

a. Cơ sở lí luận:

Học sinh tiểu học là giai đoạn tất yếu của quá trình học. Đó là giai đoạn mở đầu cho một con người đến với văn hoá. Cũng từ giai đoạn này nhân cách của học sinh được hình thành và dần dần phát triển, đặc biệt giai đoạn lớp Bốn với học sinh là hết sức quan trọng. Đây chính là lứa tuổi đang bước giai đoạn biến đổi về mặt thể chất và tinh thần. Đặc biệt là sự thay đổi về tâm lí tình cảm, các em dễ bị tác động xấu bởi những tệ nạn của xã hội nếu các em không được giáo dục tốt.

Học sinh lớp Bốn rất ngây thơ, tâm hồn các em như một tờ giấy trắng, vẽ lên đó đẹp hay xấu phần lớn là tác động của thầy, cô chủ nhiệm, vì thế giáo viên chủ nhiệm ở Tiểu học có một vị trí vô cùng quan trọng trong việc hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn về phẩm chất, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng sống cơ bản để học sinh tiếp tục học lên các lớp  trên.

Là người giáo viên, hơn ai hết chúng ta phải thấy được trọng trách của mình trong sự nghiệp trồng người. Muốn các em trở thành những con ngoan trò giỏi thì người giáo viên phải làm tốt công tác chủ nhiệm lớp. Công tác chủ nhiệm lớp là công tác rất quan trọng trong nhà trường. Vấn đề này từ trước tới nay đã được rất nhiều giáo viên quan tâm bởi nó góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng học tập và rèn luyện của học sinh. Đặc biệt đối với bậc Tiểu học thì công tác chủ nhiệm lớp càng quan trọng hơn bao giờ hết và đặc biệt hơn là ở lớp Bốn, bởi người giáo viên không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn phải quan tâm đến sự phát triển của các em về mọi mặt. Vậy làm thế nào để đạt hiệu quả cao trong công tác chủ nhiệm lớp đó là vấn đề không đơn giản.

Đối tượng của giáo viên lớp Bốn là trẻ em ở lứa tuổi đang bước giai đoạn biến đổi về mặt thể chất và tinh thần. Vì vậy người giáo viên phải có nhiệm vụ giúp các em phát triển một cách toàn diện về nhân cách, tạo điều kiện để các em lĩnh hội những kiến thức cơ bản một cách có hệ thống, nhằm làm nền tảng chắc chắn cho các em bước tiếp ở những lớp học trên. Muốn thực hiện được những nhiệm vụ đó, người giáo viên dạy lớp Bốn cần phải có sự tinh tế và nhạy bén, am hiểu sâu sắc về tâm sinh lý học sinh, thật sự yêu thương con trẻ, luôn gần gũi quan tâm đến các em thì mới hiểu thấu đáo được nguyên nhân khiến các em chưa ngoan, chưa thật sự trật tự trong giờ học. Chất lượng học tập của học sinh, nhân cách, phẩm chất, lối sống…của học sinh rồi sẽ ra sao nếu không được giáo dục đúng đắn? Chính vì hiểu rõ điều đó nên trong những năm học qua, song song với việc giảng dạy tốt các môn học theo qui định, tôi luôn cố gắng phấn đấu làm tốt vai trò, nhiệm vụ của một giáo viên chủ nhiệm lớp.

b.Cơ sở thực tiễn:

Trong phạm vi cơ sở trường học và tình hình địa phương nơi công tác tôi đã gặp những khó khăn sau:

c.Khó khăn:

*Giáo viên:

Chưa tìm hiểu kĩ và khám phá hết được điểm mạnh và điểm yếu, điểm còn hạn chế của từng học sinh. Đặc biệt là chưa tìm được giải pháp để phát huy hết khả năng sáng tạo và phát triển tư duy cho trẻ, chưa tìm được giải pháp khắc phục hết những nhược điểm về ý thức và nhận thức của trẻ.

*Học sinh:

 Các em còn nhỏ nên các em chưa có ý thức được tầm quan trọng của việc học, chưa có nền nếp, cũng như chưa có ý thức tự học ở nhà. Đến lớp thường không tích cực khi tham gia các hoạt động học, một số em còn lười học. Bên cạnh đó một số học sinh đi học chưa chuyên cần, nên dẫn đến việc tiếp thu kiến thức còn hạn chế, còn có em mắc bệnh tự kỉ cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng chung của lớp.… Chính vì thế mà trong những ngày đầu năm học giáo viên rất khó khăn vất vả khi đưa các em vào khuôn khổ lớp học.

Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều. Bên cạnh những em phát triển, học tốt, tiếp thu nhanh vẫn còn một số em  yếu về thể chất, nhỏ bé hơn so với các bạn bình thường kèm theo phát triển chậm về trí nhớ, học trước quên sau, chậm tiến bộ, không hợp tác cùng bạn…

Còn một phần không ít phụ huynh ở vùng nông thôn, không và chưa quan tâm đúng mức để việc học tập của con em mình, chưa tạo điều kiện tốt để con em mình đến lớp cũng như nhắc nhở các em việc học ở nhà.

Xuất phát từ những khó khăn như vậy tôi đã chọn cho mình đề tài về “Một số biện pháp làm tốt công tác chủ nhiệm đối với học sinh lớp Bốn”

1.2. Xác định mục đích nghiên cứu:

Việc thực hiện một số biện pháp làm tốt công tác chủ nhiệm đối với học sinh lớp Một có ý nghĩa rất quan trọng:

- Đưa các em vào nề nếp nhưng vẫn giữ được sự sáng tạo, linh hoạt của các em. Đẩy lùi thực trạng chán học, bỏ học. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng học tập cho học sinh còn giáo dục phẩm chất, hình thành nhân cách, phát triển tư duy và nhận thức của học sinh.

- Bên cạnh đó, đề tài có tác dụng tích cực đến quá trình học tập của học sinh. Giúp các em có hứng thú, tự tin, có khả năng phát huy tính tích cực, năng động sáng tạo trong học tập và rèn được kĩ năng làm việc theo nhóm, kĩ năng sống cho học sinh. Giúp học sinh khuyết tật mạnh dạn tự tin hơn trong giao tiếp, tiến bộ hơn trong học tập.

1.3. Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số biện pháp giúp giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm đối với học sinh lớp Bốn.

1.4. Đối tượng khảo sát thực nghiệm:

Lớp 4B năm học 2021- 2022 của tôi chủ nhiệm.

1.5. Phương pháp nghiên cứu:

         a.  Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Thông qua tài liệu giúp tôi có cơ sở lý luận về đề tài nghiên cứu. Bằng cơ sở lý luận, tìm hiểu ở tạp chí giáo dục, các điều công ước Quốc tế về quyền trẻ em và qua thông tin đại chúng… giúp tôi nhận thức được rằng phải áp dụng lý luận vào thực tiễn để phục vụ cho công tác chủ nhiệm lớp được tốt hơn.

 b.  Phương pháp điều tra:

  Gặp gỡ giáo viên năm trước, phụ huynh để nắm bắt tình hình học sinh, tìm hiểu tính cách và hoàn cảnh của các em (Đặc biệt là học sinh cá biệt và học sinh có hoàn cảnh khó khăn).

 c.  Phương pháp tổng hợp đánh giá:

Tổng hợp và phân loại học sinh theo từng giai đoạn: Qua kiểm tra cuối kỳ I, cuối năm, lý giải nguyên nhân (chủ quan, khách quan) và đề ra biện pháp khắc phục.       

1.6. Phạm vi và thời gian nghiên cứu:

a. Phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu tài liệu tâm lý học tiểu học.

- Qua quá trình nhiều năm làm công tác chủ nhiệm lớp ở Tiểu học.

- Nhiệm vụ của người giáo viên Tiểu học.

b. Thời gian nghiên cứu:

       Đề tài được nghiên cứu từ năm học 2021-2022

Năm học 2021-2022: nghiên cứu lý thuyết về một số biện pháp làm tốt công tác chủ nhiệm đối với học sinh lớp Bốn và tiến hành thực nghiệm.

2. Nội dung

2.1. Những nội dung lý luận có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu.

Học sinh lớp Bốn rất ngây thơ, tâm hồn các em như một tờ giấy trắng, vẽ lên đó đẹp hay xấu phần lớn là tác động của thầy, cô chủ nhiệm, vì thế giáo viên chủ nhiệm có một vị trí vô cùng quan trọng trong việc hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng sống cơ bản để học sinh tiếp tục học lên các lớp trên.

Giáo viên chủ nhiệm là người thay mặt nhà trường quản lý, điều hành lớp, trực tiếp giáo dục tư tưởng đạo đức, hình thành nhân cách cho học sinh; là cầu nối giữa ba môi trường giáo dục: gia đình, nhà trường và xã hội. Làm tốt công tác chủ nhiệm tức là người giáo viên đã hoàn thành tốt việc giảng dạy các môn học và tổ chức giáo dục, rèn luyện năng lực, phẩm chất cho học sinh. Là người giáo viên, hơn ai hết chúng ta phải thấy được trọng trách của mình trong sự nghiệp trồng người. Muốn các em trở thành những con ngoan trò giỏi thì người giáo viên phải làm tốt công tác chủ nhiệm lớp.

2.2.Thực trạng vấn đề nghiên cứu:

Học sinh lớp 4 còn nhỏ, các em sống trong những gia đình có hoàn cảnh khác nhau, nếp sống khác nhau nên nhận thức và nếp sống cũng khác nhau.

 Các em ham chơi, nhiều em rất hiếu động chưa ý thức được việc học của mình, chưa chú ý nghe giảng, rất dễ bị ảnh hưởng bởi tiếng nói, cười, tiếng người qua lại ở trong lớp cũng như ngoài lớp học nên lớp học chưa có nề nếp, các em  luyên thuyên nói chuyện, chưa biết tập trung lâu sự chú ý vào một cái gì đó, ít tập trung trong giờ học. Chính vì thế mà trong những ngày đầu năm học giáo viên rất khó khăn vất vả khi đưa các em vào nề nếp, khuôn khổ lớp học.

 Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều. Bên cạnh những em phát triển, học tốt, tiếp thu nhanh vẫn còn nhiều em  yếu về thể chất, nhỏ bé hơn so với các bạn bình thường kèm theo phát triển chậm về trí nhớ, học trước quên sau, chậm tiến bộ, không hợp tác cùng bạn…

 Còn một phần không ít phụ huynh ở vùng nông thôn, không và chưa quan tâm đúng mức để việc học tập của con em mình, chưa tạo điều kiện tốt để con em mình đến lớp cũng như nhắc nhở các em việc học ở nhà. 

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để học sinh có ý thức, có nề nếp, biết tự quản… trong học tập, trong mọi hoạt động để chất lượng học tập cũng như năng lực, phẩm chất đạt kết quả cao.

2.3.Mô tả, phân tích các giải pháp:

Để hoàn thành tốt công tác chủ nhiệm lớp trong nhà trường thì người giáo viên chủ nhiệm phải là người có tâm huyết với nghề, phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, phải thường xuyên học hỏi trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ cũng như kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm.Theo tôi để làm tốt và thành công trong công tác chủ nhiệm lớp thì tôi đã đề ra một số giải pháp như sau:

a. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm: Ngoài việc thực hiện những vai trò, nhiệm vụ theo quy định, người giáo viên chủ nhiệm cần:

a.1 Giáo viên xác định được vai trò của mình:

Giáo viên thấy được mục đích chính của việc dạy học, là dạy dỗ, giáo dục, rèn luyện con người. Muốn làm được việc này giáo viên phải là người gương mẫu chấp nhận mọi vất vả, không quản ngại khó khăn, luôn có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, bản thân phải có nỗ lực lớn, đầu tư nhiều thời gian, phải có tâm huyết với nghề, không thoái thác buông xuôi mà phải kiên trì bền bỉ, chịu khó thì mới đưa các em vào nề nếp.

a.2 Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh:

Đây là công việc xuyên suốt cả một năm học. Đầu tiên là tôi theo dõi từng diễn biến cá nhân học sinh, rà soát lý lịch học sinh, tìm hiểu học sinh, hoàn cảnh gia đình thông qua giáo viên chủ nhiệm lớp Ba , tìm hiểu học sinh có hoàn cảnh đặc biệt... Giáo viên phải sắp xếp thời gian thăm hỏi tình hình gia đình tạo điều kiện tốt cho việc thông tin hai chiều.

a.3 Phân loại học sinh:

Qua một tuần đầu theo dõi. Giáo viên nắm rõ từng đối tượng học sinh trong lớp để sắp xếp chỗ ngồi cho các em thật hợp lý. Mỗi tổ, mỗi nhóm phải có đủ các đối tượng học sinh. Nắm được tình trạng sức khỏe, đặc biệt là thị lực của học sinh trong lớp, tạo thuận lợi cho việc sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh. Những em có thể trạng kém phát triển và có vấn đề về thị lực tôi luôn dành cho các em chỗ ngồi gần với bảng, dễ quan sát giáo viên.

Xếp những em hiếu động, hay nói chuyện ngồi cùng bàn với những em trầm tính, ngoan và không nói chuyện, các bàn xen kẽ giữa nam và nữ. (nhằm mục đích bình đẳng giới, hạn chế học sinh nói chuyện, làm việc riêng, dung hòa cá tính hiếu động của các em).

Xếp cho học sinh theo nhóm đối tượng: học sinh tiếp thu bài nhanh ngồi cùng bàn với học sinh tiếp thu chậm. Tôi giao nhiệm vụ cho học sinh tiếp thu bài nhanh thường xuyên quan tâm, giúp đỡ bạn, thực hiện đôi bạn cùng tiến trong học tập. Mỗi khi học sinh tiếp thu chậm không chú ý nghe giảng thì nhắc nhở bạn. Khi thảo luận cặp đôi, nhóm thì các em sẽ chia sẻ với bạn các câu hỏi, các bài tập khó.

Thay đổi chỗ ngồi một năm hai đến ba lần, trường hợp đặc biệt cần thay thường xuyên để tìm ra chỗ phù hợp nhất đối với học sinh. Những em có sức tập trung kém tôi lưu ý dành cho các em chỗ ngồi dễ quan sát bảng, không ngồi gần cửa ra vào hoặc gần cửa sổ, gần với giáo viên để kịp thời nhắc nhở. Không bắt buộc các em lúc nào cũng phải ngồi nghiêm như vậy các em sẽ nhanh mỏi và dẫn đến nhu cầu vận động càng tăng lên.

a.4 Giáo viên và học sinh tham gia mọi hoạt động:

Ở lứa tuổi này các em rất nhạy bén trong giao tiếp. Vì vậy các em rất hay so bì, dễ tự ái. Để tránh mất lòng tin nên giáo viên phải hết sức nghiêm túc, thực hiện mọi hoạt động cùng học sinh để khen, chê đúng mức, kịp thời. Giáo viên cũng thường xuyên khen để các em mạnh dạn hơn, tự tin hơn mỗi khi có ý kiến phát biểu tính tập thể. Ngoài giờ học, cô trò thỉnh thoảng trò chuyện dù những việc không liên quan đến việc học. Nhưng từ đó học sinh cũng thấy được sự thân mật, gần gũi, sự quan tâm thương yêu của cô giáo giúp các em ham thích đi học. Để các em luôn có tư tưởng “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”.

Với những yêu cầu trên dựa vào đó mà giáo viên có những chứng cứ cụ thể để đánh giá thành tích cho các em. Một khi cá nhân các em có biểu hiện tốt, giúp giáo viên đánh giá được chính xác và công bằng.

a.5. Xây dựng mối quan hệ bạn bè:

Trong cuộc sống của mỗi con người, ngoài những người thân trong gia đình ra, ai cũng cần có bạn bè để chia sẻ. Học sinh Tiểu học cũng vậy. Nếu các em có nhiều bạn bè thân thiết trong lớp thì các em sẽ hợp tác vui vẻ với nhau và sẽ giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Em hoàn thành tốt sẽ giúp những em chưa hoàn thành, ngược lại, em chưa hoàn thành cũng dễ dàng nhờ bạn giúp đỡ mình học tập mà không phải e ngại, xấu hổ (Học thầy không tày học bạn). Nhưng trong thực tế, một lớp học thường xuất hiện nhiều nhóm học trò. Các em chia bè phái, phân biệt giàu nghèo, hay nói xấu hoặc châm chọc nhau. Những em nữ thì hay rỗi hay hờn giận. Còn các em nam thì hăm he đánh nhau, trả thù nhau. Tuy các em chưa gây ra chuyện gì nghiêm trọng nhưng nó vẫn ảnh hưởng xấu đến tình cảm bạn bè và chất lượng học tập của lớp.

Là một giáo viên chủ nhiệm, tôi luôn quan tâm đến vấn đề này. Xây dựng được mối quan hệ bạn bè đoàn kết, gắn bó thì tôi sẽ xây dựng được nề nếp lớp học, tiến tới xây dựng môi trường học tập thân thiện. Từ môi trường học tập thân thiện đó, chất lượng học tập của lớp chắc chắn sẽ được nâng cao.

Để xây dựng mối quan hệ bạn bè thân thiết, đoàn kết, gắn bó, sẵn sàng giúp đỡ nhau trong học tập, tôi luôn tạo ra các hoạt động, các vấn đề đòi hỏi sự hợp tác của nhiều học sinh. Cách làm cụ thể như sau: Trong mỗi tiết học, khi tổ chức hoạt động nhóm các thành viên trong nhóm phải cùng nhau chia sẻ, trao đổi với nhau. Lúc đầu có em tham gia sôi nổi trong nhóm, nhưng có em ngồi thụ động, không hợp tác. Trước tình trạng đó, tôi tuyên bố  kết quả của từng nhóm và lấy kết quả đó chung cho tất cả các thành viên của nhóm. Do đó, những em muốn kết quả cao buộc phải tích cực, còn những em không tích cực hợp tác, tôi sẽ cho ngồi riêng một mình và phải làm toàn bộ công việc của một nhóm, làm đến đâu thì nhận kết quả đến đó. Bị ngồi một mình nên không thể hoàn thành công việc và phải nhận kết quả đánh giá thấp, trong khi các bạn ở các nhóm đều có kết quả đánh giá cao. Các em đó sẽ không dám hờ hững nữa. Cứ như vậy, dần dần việc hợp tác của học sinh trong lớp đã được cải thiện.

Tôi khuyến khích học sinh tự nêu ra những điều em chưa đồng ý ‎về việc làm, cách cư xử của lớp trưởng, lớp phó hoặc của một bạn nào đó trong lớp chứ không nói xấu, không xa lánh bạn. Căn cứ vào những điều các em nêu ra, nếu là những điều tốt thì tôi tuyên dương ngay trước lớp. Còn những điều các em phê bình thì tôi phải điều tra nắm rõ đúng hay sai.

Sau đó mới góp ý riêng với những học sinh bị bạn phê bình, yêu cầu các em phải xin lỗi bạn và phải sửa chữa. Khi có chuyện xích mích giữa em này với em kia, tôi kịp thời can thiệp không để mâu thuẫn kéo dài gây ảnh hưởng xấu đến tình bạn. Tôi gặp gỡ trao đổi riêng với từng học sinh hoặc nhóm học sinh để biết rõ đầu đuôi. Sau đó phân tích rõ ai đúng, ai sai. Ai sai thì phải nhận lỗi và xin lỗi bạn. Sau đó giảng hòa và bắt tay nhau vui vẻ trở lại.

                                    GV cùng HS trong hoạt động nhóm

 

Học sinh tổ chức hoạt động trải nghiệm ở vườn trường.

a.6 Giáo viên quan tâm đến việc rèn kĩ năng sống cho học sinh

        Trong cuộc sống, khi tham gia vào bất kỳ hoạt động nào phục vụ cho cuộc sống đều đòi hỏi chúng ta phải có những kỹ năng tương ứng. Rèn luyện kĩ năng sống (KNS) cho HS là nhằm giúp các em rèn luyện KN ứng xử thân thiện trong mọi tình huống; thói quen và KN làm việc theo nhóm, KN hoạt động xã hội; Giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khỏe, ý thức tự bảo vệ bản thân, phòng ngừa tai nạn giao thông, đuối nước và các tệ nạn xã hội. Đối với HS tiểu học việc hình thành các KN cơ bản trong học tập và sinh hoạt là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này. Vì vậy, chúng ta cần chú ý rèn luyện cho các em các KNS cơ bản qua các hoạt động học tập và trong cuộc sống:

         + Kỹ năng sống tự tin : Một trong những kỹ năng đầu tiên mà giáo viên cần chú tâm là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với những người khác. Kỹ năng sống này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin trong mọi tình huống ở mọi nơi.

         + Kỹ năng sống hợp tác: Thông qua các tiết học, trò chơi, câu chuyện, bài hát giáo viên giúp các em học cách cùng làm việc với bạn. Khả năng hợp tác sẽ giúp các em biết cảm thông và cùng làm việc với các bạn và là điều kiện được học hỏi, cơ hội được thể hiện mình.

+ Kỹ năng thích tò mò, ham học hỏi, khả năng thấu hiểu: Đây là một trong những kỹ năng quan trọng nhất cần có ở các em  vào giai đoạn này là sự khát khao được học. Giáo viên cần sử dụng nhiều tư liệu và ý tưởng và phương pháp khác nhau để khêu gợi tính tò mò tự nhiên của các em.

        + Kỹ năng giao tiếp: Giáo viên cần dạy các em biết thể hiện bản thân và diễn đạt ý tưởng của mình cho người khác hiểu, các em cần cảm nhận được vị trí, kiến thức của mình trong thế giới xung quanh các em. Đây là một kỹ năng cơ bản và khá quan trọng đối với các em như những kỹ năng khác: đọc, viết, làm toán và nghiên cứu khoa học. Kĩ năng này giúp các em thoải mái khi trao đổi về một ý tưởng hay những suy nghĩ mới ... . Đây chính là yếu tố cần thiết để giúp học sinh  sẳn sàng học mọi thứ.

         Ngoài môi trường giáo dục ở nhà trường, giáo viên cần dạy học sinh  nghi thức văn hóa trong ăn uống qua đó dạy các em  kỹ năng lao động tự phục vụ, rèn tính tự lập như: Biết tự rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, chỉ ăn uống tại bàn ăn, biết cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước khi ăn, cảm ơn sau khi ăn, biết tự dọn, cất đúng chỗ bát, chén, thìa … hoặc biết giúp người lớn dọn dẹp, ngồi ngay ngắn, ăn hết suất, không làm ảnh hưởng đến người xung quanh ...

Đây là những kĩ năng hết sức cơ bản trong cuộc sống mà các em dần hình thành trong quá trình học tập ở trường.

b.  Xây dựng nề nếp lớp học

Việc xây dựng nề nếp học tập cho các em cũng là một trong những yếu tố quan trọng trong công tác chủ nhiệm lớp. Xác định rõ được điều đó nên tôi đã chú ý đến biện pháp xây dựng tốt nề nếp học tập để làm tiền đề cho việc nâng cao chất lượng học sinh cho lớp mình.

- Xây dựng, kiện toàn tổ chức lớp.

- Tiến hành bầu lớp trưởng, lớp phó, tổ trưởng, tổ phó và phân chia tổ, nhóm sắp xếp chỗ ngồi theo vị trí từng tổ, qui định ranh giới từng chỗ ngồi cho từng em.

- Chọn ban tự quản nhanh nhẹn, hoạt bát, hăng hái với công việc được giao.

- Tập huấn cho ban tự quản lớp (từ lớp trưởng, lớp phó, tổ trưởng, tổ phó, các nhóm trưởng) sau đó triển khai xuống lớp những qui định của giáo viên đối với lớp.

+ Quy định về nề nếp sinh hoạt đầu giờ, giữa giờ, tự giác theo sự điều khiển của lớp trưởng (hát, múa, trò chơi...) đã được giáo viên hướng dẫn. Ngồi chăm chú nghe đọc bài, tập trung viết bài, tự giác điều khiển lẫn nhau để giữ trật tự khi vắng mặt giáo viên chủ nhiệm ở những phút đầu giờ.

+ Xây dựng cho các em hệ thống ký hiệu trong dạy học.

+ Xây dựng nội quy lớp học.

c. Duy trì thái độ học tập của học sinh

  c.1.Sử dụng phương pháp nêu gương để khuyến khích tinh thần học tập của học sinh.

Tuyên dương những việc làm tốt trước tập thể có sức lan tỏa rất lớn tới học sinh, nó có tác dụng gấp nhiều lần những phương pháp giáo dục khác. Đối với đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học các em rất thích được khen, đặc biệt là khen trước các bạn, người thân, … điều này làm cho các em cảm thấy tự hào, phấn chấn và vui vẻ.

Hàng ngày trong mỗi tiết học tôi thường xuyên khen ngợi sự tích cực, cố gắng của các em, luôn dành cho các em những lời động viên khích lệ trước những tiến bộ của các em trong giờ học, thưởng những bông hoa thi đua. Cuối mỗi tuần vào tiết sinh hoạt lớp tôi cho học sinh bình chọn cá nhân, tổ có nhiều bạn có cố gắng học tập, hăng hái phát biểu xây dựng bài. Phần thưởng cho các em chỉ đơn giản là một tràng pháo tay của cả lớp hoặc những bông hoa thi đua, phần thưởng vào cuối tháng cho mỗi học sinh có tiến bộ là một cây bút, quyển vở... Đối với những em có tiến bộ vượt trội trong tuần được lựa chọn để tuyên dương trong giờ Sinh hoạt dưới cờ. Điều này đã tác động mạnh đến ý thức của các em, làm cho những học sinh khác luôn có mong muốn được tuyên dương như bạn và sẽ cố gắng hơn.

Khi khen ngợi tôi luôn chú ý. 

+ Khen phải có chừng mực không nên tập trung vào một học sinh vì làm như thế trẻ chỉ quen với những lời khen, do vậy khi có thiếu sót trẻ khó tiếp thu sự uốn nắn.

+ Khen ngợi phải đúng, kịp thời: Mức độ cố gắng của học sinh đến đâu thì khen các em đến đó tránh khen ngợi tràn lan, chung chung. Đặc biệt đối với trẻ nhút nhát cần khuyến khích những tiến bộ cho dù là rất nhỏ. Khen phải chỉ rõ khen cái gì ? tại sao được khen?.

+ Các hình thức khen phải đa dạng: Nụ cười, cử chỉ, lời khuyến khích, một sự tin cậy, hoặc bằng hiện vật như: vở, bút, tẩy,…

VD: Khi thấy trò mải nói chuyện riêng tôi đã đến gần và đưa ra câu hỏi đơn giản, dễ hiểu phù hợp với nội dung bài học. Nếu em đó đưa ra câu trả lời chưa đúng hết tôi sẽ nhận xét em: Câu trả lời của con gần đúng rồi, nhưng nếu con chú ý vào bài học thì cô chắc chắn con sẽ có câu trả lời tuyệt vời hơn đấy…

c.2.Tích hợp trò chơi trong bài học. Chơi mà học – Học mà chơi.

Học sinh lớp 4 nhu cầu được chơi, được vận động rất cao, nếu ngày nào các tiết học cũng diễn ra đều đều với các hoạt động đơn điệu thì sẽ rất nhàm chán, học sinh không cảm thấy hào hứng chờ đón để khám phá bài học. Vậy phải làm thế nào để duy trì được tâm thế chủ động, phấn khởi, khởi động các tiết học của học sinh? Điều này đã luôn thôi thúc tôi nghiên cứu xây dựng mỗi tiết học đều mang sắc thái mới mẻ, xen vào đó là những trò chơi học tập hoặc xây dựng nội dung bài học là cả một câu chuyện dẫn dắt các em khám phá qua từng hoạt động rất nhẹ nhàng. Với các tiết học như vậy tôi đã tạo được hứng thú cho học sinh, không khí sôi nổi hào hứng của tiết học sẽ giúp cho các em được thỏa mãn nhu cầu vui chơi và giao tiếp. Tăng khả năng tiếp thu bài một cách chủ động, tích cực. Từ đó các em thêm yêu thích các hoạt động học tập, luôn có ý thức tham gia các hoạt động học nhiều hơn.

VD: Phần khởi động của một tiết toán tôi xây dựng thành một đoạn của câu chuyện Ăn Khế trả vàng. Mỗi quả khế mà chim hái được đều chứa một câu hỏi. Các em sẽ giúp chim nêu được kết quả của câu hỏi đúng thì chim mới được ăn. Và để cảm ơn cậu bé, chim sẽ tặng cho cậu bé mỗi quả khế mà chim được ăn sẽ là một thỏi vàng. (Điều kiện để được tham gia trò chơi là các bạn ngồi học ngay ngắn, giơ tay đẹp, không nói chuyện…). Từ đó học sinh sẽ chăm chú học tập hơn, lắng nghe, tích cực, … để mình cũng được tham gia trò chơi như các bạn.

Trong nội dung bài học có nội dung nào phù hợp có thể thực hiện được bằng hình thức trò chơi là tôi sẽ tổ chức cho các em thực hiện. Nhằm thúc đẩy học sinh thi đua học tập giữa các nhóm, các tổ nhằm tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin, cố gắng, thích thú trong tiết học.

 Sau khi được chơi vui vẻ và được vận động các em bước vào học bài hào hứng hơn, thoải mái hơn mà không quay qua quay lại, nói chuyện riêng, mệt mỏi trong giờ học.

c.3. Dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh

Có nhiều khi bản thân tôi cũng đã từng nổi nóng khi thấy học sinh không chú ý nghe giảng, không làm bài khi giáo viên giao, nhưng tôi đã nhanh chóng nhận ra chắc chắn những gì tôi làm sẽ chỉ khiến cho trò sợ hãi, căng thẳng và càng mất tập trung hơn trong giờ học. Vì vậy tôi đã thay đổi thay vì la các em khi các em không tập trung vào bài giảng mà mỗi khi như vậy là tôi lại dừng giảng bài và biểu lộ vẻ mặt nghiêm khắc nhắc nhở lần một, lần hai sẽ nghiêm khắc nói “ Thầy muốn con giữ trật tự.., Thầy không hài lòng khi con không chú ý nghe giảng,...” Nếu học sinh nhanh chóng điều chỉnh thì tôi có thể chuyển tiếp sang nội dung bài học kèm theo một nụ cười để khuyến khích học sinh và xác nhận sự tiến bộ của các em.

Trong lớp nhiều khi các em có đồ chơi mang đến lớp, trong giờ học thường hay lấy ra chơi, cũng có khi chính những đồ dùng học tập được mang ra không đúng lúc lại trở thành đồ chơi cho các em. Có nhiều em khi được tôi nhắc nhở đã tự giác cất đi. Tuy nhiên còn một số em đã cất rồi lại mang ra chơi tiếp. Lúc này tôi đã xuống chỗ em và nói: Em có thể cho thầy mượn đồ chơi của em được không? Học sinh đưa cho tôi nói thêm: Nếu con chú ý vào học bài thì cuối giờ thầy sẽ đưa lại cho con mang về nhà chơi. Khi đưa lại đồ cho học sinh tôi không quên dặn các em không nên mang đồ chơi đến lớp.

c.4.Quản lí lớp học khoa học

Bao quát lớp tốt chính là một phần của thành công trong bài giảng, thành công trong công tác chủ nhiệm. Bởi vì chỉ khi bản thân giáo viên bao quát được học sinh đang làm gì trong giờ học mới kịp thời dẫn dắt các em tập trung nghe thầy giáo giảng bài. Khi lên lớp tôi không chỉ chú ý đến một số học sinh phía trên gần bục giảng mà phải bao quát tất cả các em ở phía cuối lớp. Đối với học sinh chưa chú ý vào bài tôi thường xuyên ra tín hiệu cho các em biết rằng “Thầy biết hết đấy,” thể hiện sự quan tâm nhưng phải nghiêm khắc của mình. Đặc biệt tôi luôn hạn chế đứng quay lưng xuống dưới lớp, không để có thời gian “chết” trong giờ học. Vì như vậy là tạo điều kiện cho các em nói chuyện. Để ổn định lại sẽ mất nhiều thời gian của tiết học.

Khi tôi đang dạy tôi thường xuyên đến kiểm tra bài làm của học sinh tại chỗ nhận thấy có một số em chưa lấy vở làm bài tôi đã nhanh chóng  nhắc nhở. Thay vì trách mắng tôi có thể đứng cạnh học sinh đó và theo dõi, hỗ trợ em làm bài. Đôi khi tôi vừa đứng cạnh học sinh như một cách cảnh báo nhưng đồng thời vẫn dạy hoặc vẫn nghe câu trả lời của học sinh khác như thường. Nếu học sinh vẫn không có sự điều chỉnh, giữ trật tự và làm bài. Cần thiết, tôi có thể ra tín hiệu sau đó đưa yêu cầu (Thầy muốn con hoàn thành bài tập, bài viết,..) sau đó rời đi. Tôi không đợi cho đến khi trẻ dừng lại những hành vi mà để các em tự điều chỉnh và có thời gian điều chỉnh hành vi.

Lôi cuốn sự tham gia của chính học sinh đang mất trật tự, làm việc riêng vào hoạt động học tập thông qua việc tương tác giữa cô và trò. Đây cũng là một cách hữu hiệu khi tôi muốn lôi cuốn trực tiếp em học sinh có dấu hiệu không tập trung vào các nhiệm vụ học tập. Khi gọi những học sinh đang không tập trung nghe giảng tôi phải thể hiện sự nhiệt tình, khuyến khích, động viên các em chứ không phải cách làm cho học sinh cảm thấy xấu hổ. Hỏi các em những câu hỏi đơn giản. Khi học sinh có câu trả lời tốt hãy khen học sinh trước cả lớp, khi đó chắc chắn học sinh đó sẽ dừng lại các hành vi không đúng.

 d. Rèn vở sạch - chữ đẹp:

Một trong những phần quan trọng trong công tác chủ nhiệm là việc rèn cho học sinh giữ vở sạch - chữ đẹp.

d.1. Trước hết để giúp học sinh giữ được vở sạch, viết chữ đẹp thì:

Giáo viên phải làm gương cho học sinh noi theo. Chữ viết hàng ngày ở bảng lớp tôi viết rất cẩn thận, đúng độ cao, khoảng cách đều, nét chữ viết rõ ràng, đặt đúng vị trí, trình bày bài giảng rõ ràng, sạch đẹp. Vì những hình ảnh trình bày trên bảng đều là những cái mẫu có tác dụng mạnh đến học sinh để học sinh làm theo.

Khi viết nhận xét vào vở học sinh hằng ngày tôi cũng luôn viết chữ đúng độ cao từng con chữ, khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng đều nhau, đặt dấu thanh đúng quy định. Vì thầy có viết rõ ràng, đều nét, trình bày đẹp thì học sinh sẽ viết  theo chữ mẫu của thầy. Trong lúc viết bảng con tôi luôn uốn nắn từng nét chữ cho các em.

d.2. Hướng dẫn học sinh ở lớp giữ vở sạch:

- Trong sinh hoạt 15 phút sinh hoạt đầu giờ ôn bài tôi dành 3 - 5 phút kiểm tra vệ sinh tay, nếu em  nào tay bẩn yêu cầu các em rửa tay và lau khô tránh làm bẩn vở.

- Đối với những em hay ra mồ hôi tay thì khi viết dùng 1 tờ giấy lót hoặc có khăn sạch để lau, để tránh mồ hôi làm lem nhem mực, bẩn vở.

- Thường xuyên kiểm tra bài viết của các em ở nhà để kịp thời phát hiện những vở bị xé, tránh việc xé giấy làm xộc xệch sách vở.

- Đối với những em viết chưa đẹp giáo viên cần tăng cường khâu động viên, hỗ trợ  giúp đỡ các em kịp thời.

- Thường xuyên tuyên dương, khen ngợi những học sinh biết giữ vở sạch viết chữ đẹp để tạo động lực cho các em tiếp tục duy trì và tạo động lực cố gắng cho các em khác.

          e. Áp dụng các phương pháp giáo dục phù hợp với từng loại đối tượng

*Đối với những học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn:

- Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên động viên giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần. Kêu gọi học sinh cả lớp có tinh thần đoàn kết giúp bạn vượt khó. Đề đạt với chi hội phụ huynh lớp, nhà trường tạo điều kiện giúp đỡ những em đó. Tính ưu việt của việc làm này là vừa khắc phục được khó khăn lại vừa giáo dục được lòng nhân ái cho học sinh và tranh thủ được sự hỗ trợ của nhà trường của hội phụ huynh học sinh.

* Đối với những học sinh khuyết tật:

Giáo viên chủ nhiệm cần dành tình cảm ưu ái hơn. Chú ý cách bố trí chỗ ngồi phù hợp, cách đặt câu hỏi gợi mở khi tìm hiểu bài và sự đòi hỏi yêu cầu về nội dung bài học sẽ khác hơn so với học sinh bình thường. Thường xuyên gặp gỡ phụ huynh để kết hợp theo dõi diễn biến về sức khoẻ và học tập của các em.

* Đối với  học sinh chưa ngoan:

Tìm hiểu nguyên nhân qua gia đình: Gia đình có sự mâu thuẫn giữa bố và mẹ, gia đình thiếu quan tâm hoặc có thể bị bạn bè, kẻ xấu lôi kéo….Hoặc trẻ có những tính xấu mà bản thân gia đình chưa giáo dục được…

Dùng phương pháp tác động tình cảm, nghiêm khắc đối với học sinh nhưng không cứng nhắc. Tuyệt đối không sử dụng phương pháp trách phạt mà luôn gần gũi các em, quan tâm hơn và thường xuyên nhắc nhở động viên khen chê kịp thời. Giao cho các em đó một chức vụ trong lớp nhằm gắn với các em trách nhiệm để từng bước điều chỉnh mình. Nếu có một chút tiến bộ giáo viên khen để em có động lực cố gắng tiếp.

* Đối với học sinh chưa hoàn thành:

- Tìm hiểu nguyên nhân vì sao em đó chưa hoàn thành. Có thể là ở gia đình các em đó không có thời gian học tập vì phải làm nhiều việc hoặc em đó có lỗ hỏng về kiến thức nên cảm thấy chán nản.

- Giáo viên lập kế hoạch giúp đỡ đối tượng bằng những việc cụ thể như sau:

+ Giảng lại bài mà các em chưa hiểu hay còn hiểu mù mờ vào những thời gian ngoài giờ lên lớp.

+ Đưa ra những câu hỏi từ dễ đến khó để học sinh có thể trả lời được nhằm tạo hứng thú và củng cố niềm tin ở các em, tạo sự mạnh dạn, tự tin hơn.

+ Thường xuyên kiểm tra các đối tượng đó trong quá trình lên lớp.

+ Tổ chức cho học sinh học theo nhóm để học sinh hoàn thành tốt giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành tiến bộ, thực hiện đôi bạn cùng tiến trong học tập, khen ngợi cả đôi bạn trước lớp khi có sự tiến bộ hay một món quà thưởng như cây bút, cục tẩy...

+ Gặp gỡ phụ huynh học sinh trao đổi về tình hình học tập, cũng như sự tiến bộ của con em để phụ huynh giúp đỡ thêm việc học ở nhà cho các em.

+ Chú ý tránh thái độ miệt thị, phân biệt đối xử làm cho các em nhụt chí, xấu hổ trước bạn bè.

* Đối với những học sinh có năng lực đặc biệt:

- Điều quan trọng là phát hiện những năng lực đặc biệt ở học sinh về văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, hội hoạ…Cùng với nhà trường lập kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho các đối tượng này.

- Bồi dưỡng, khơi dậy ở các em lòng say mê hứng thú học tập thông qua những hội thi, những buổi nói chuyện ngoại khoá hoặc gần gũi nhất ngay trong  tiết học chính khoá. Tóm lại dù với đối tượng nào bản  thân giáo viên phải lưu ý dùng phương pháp tác động tình cảm, động viên khích lệ kịp thời, quan tâm sâu sát, gần gũi với các em, phối hợp với phụ huynh để giáo dục.

g. Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà

          Rèn nếp học tập ở nhà là một phần rất quan trọng trong vấn đề hình thành nề nếp học tập cho học sinh lớp Bốn.

          Hiện nay, học sinh đang phải đi học trong tình hình dịch bệnh Covid 19 diễn biến hết sức phức tạp và lây lan nhanh trong các cơ sở giáo dục và học sinh học theo nội dung chương trình ứng phó với Covid có nhiều nội dung giảm tải, gộp lại thành chủ đề. Nhưng toàn bộ phần bài làm, bài học được giáo viên hướng dẫn và hoàn thành ngay trên lớp tuy nhiên vẫn cần rèn cho các em có nề nếp buổi tối về nhà biết ngồi vào góc học tập của mình, để đọc lại phần bài vừa học trong ngày và cùng với sự hướng dẫn của bố mẹ, tự soạn sách vở và đồ dùng học tập cho ngày hôm sau. Hàng ngày thực hiện đều đặn như vậy đồng thời với việc sáng sáng trong giờ truy bài  các cán bộ lớp sẽ kiểm tra sự chuẩn bị sách vở, đồ dùng học tập của từng bạn để báo cáo thầy giáo kịp thời nhắc nhở những bạn còn vi phạm, sai, thiếu đồ dùng học tập hay chưa chuẩn bị tốt bài. Lâu dần các em sẽ có thói quen về nề nếp học tập ở nhà và các em có thể tự giác ngồi vào bàn học không cần sự nhắc nhở của bố mẹ cũng như tự soạn lấy sách vở và đồ dùng học tập cho mình.

      Như vậy nề nếp học ở nhà rất cần thiết và có lợi cho các em khi học ở các lớp sau. Tất cả những điều này tôi đã thống nhất với cha mẹ học sinh qua buổi họp phụ huynh đầu năm.

h.Thực hiện tốt tiết sinh hoạt lớp

Trong giờ sinh hoạt lớp, cần tạo cho các em tâm thế thoải mái, không gây sức ép nặng nề đối với học sinh bằng những lời trách phạt, phê bình mà giáo viên tập cho các em biết phê và tự phê. Trong mỗi tiết sinh hoạt lớp, giáo viên cho học sinh tự nhận xét ưu, khuyết điểm bằng nhiều hình thức khác nhau như: Tổ nhận xét, cá nhân tự nhận xét, lớp trưởng nhận xét. Bên cạnh đó, giáo viên cũng tạo điều kiện cho học sinh bày tỏ những suy nghĩ của mình qua một tuần học: những điều em thích, những điều em chưa thích, mong muốn của em, ... Qua đó, giáo viên nắm được tâm tư, nguyện vọng của từng học sinh mà có những biện pháp giáo dục phù hợp và cũng tạo cho học sinh sự mạnh dạn, tự tin trước tập thể.

Cũng trong tiết sinh hoạt lớp, giáo viên đưa ra những yêu cầu, nội dung về rèn luyện phẩm chất, nội quy học tập... rồi tổ chức cho học sinh thảo luận lập kế hoạch hành động cụ thể. Giáo viên nhận xét và chọn những hành động thiết thực để các em thực hiện. Sau mỗi tuần, hoặc thời gian quy định, giáo viên cho học sinh tự nhận định, đánh giá lại những việc đã làm được và chưa làm được so với kế hoạch, từ đó rút kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn.

Ví dụ: Học sinh thảo luận lập kế hoạch hành động thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy. Học sinh đã đưa ra một số hoạt động như sau:

-  Đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến.

-  Không gây gổ, đánh nhau.

-  Không nói chuyện trong giờ học.

-  Thực hiện tốt các nội quy của trường, lớp.

-  Thân ái với mọi người.

-  Tự giữ trật tự khi không có cô hoặc cô có khách.

-  Trung thực, yêu thương bạn bè…

   Bên cạnh đó, trong các tiết sinh hoạt lớp, giáo viên lồng ghép một số hoạt động giáo dục về quyền trẻ em, an toàn giao thông, giáo dục bảo vệ môi trường, rèn các kĩ năng sống, giáo dục địa phương, chia sẻ những điều đã làm ... nhằm giáo dục cho học sinh.

Giáo viên linh hoạt tổ chức tiết sinh hoạt lớp dưới nhiều hình thức như trong lớp hoặc ngoài sân trường tùy nội dung sinh hoạt từng tuần để tạo cho các em sự hứng thú, thoải mái trong tiết sinh hoạt.

 

         

       i. Hướng học sinh đến những hoạt động đoàn kết, quan tâm, giúp đỡ nhau.

Ngay từ những ngày đầu năm học, giáo viên tổ chức các hoạt động cho học sinh giao lưu, tìm hiểu về nhau. Để giúp các em biết quan tâm, giúp đỡ nhau thì ban đầu trong mỗi ngày học, giáo viên dành ra một khoảng thời gian để trò chuyện cùng các em, hỏi các em có những gì vui, buồn, điều gì hay, ... chia sẻ với cô và các bạn. Dần dần sau đó, giáo viên cho các em tự đi tìm hiểu, chia sẻ với nhau. Qua những hoạt động đó tạo mối gắn kết các em lại thành một tập thể đoàn kết, thương yêu, quý mến nhau.

Ngoài ra, giáo viên còn tạo cho học sinh biết đối xử thân thiện, hòa nhã với nhau, xưng hô lịch sự, biết dùng lời hay ý đẹp để nói với nhau.

Ví dụ: Uốn nắn học sinh thay đổi cách xưng hô “ông – bà” sang xưng hô “mình – bạn”, “cậu – tớ”, xưng hô tên.

k. Giáo dục học sinh qua các câu chuyện kể, qua các giờ đọc sách thư viện lớp.

Trong những giờ học kể chuyện, giờ giải lao đọc sách tại thư viện lớp học...giáo viên kể cho các học sinh nghe những câu chuyện về những tấm gương vượt khó học giỏi, con ngoan trò giỏi, những người bạn tốt nhằm giáo dục các em về cách ứng xử, giao tiếp trong cuộc sống và tổ chức học sinh thi kể lại những câu chuyện theo chủ đề.

Ví dụ: Câu chuyện kể “Vua tàu thủy” Bạch Thái Bưởi kể vể một cậu bé mồ côi cha từ nhỏ, theo mẹ quẩy gánh hàng rong. Được nhà họ Bạch nhận làm con nuôi và cho ăn học. Ông đứng ra kinh doanh độc lập, trải đủ mọi nghề. Có lúc mất trắng tay, ông vẫn không nản chí. Cuối cùng ông đã trở thành " một bậc anh hùng kinh tế".

 

                               Tiết  Kể chuyện cho học sinh nghe

Qua câu chuyện giáo viên giáo dục học sinh về ý chí vươn lên, vượt khó trong cuộc sống.

l. Công tác phối hợp giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội:

Đối với phụ huynh: Giáo viên chủ nhiệm phải biết vận động, động viên phụ huynh cùng với phụ huynh bàn bạc một số giải pháp nhằm giúp con học tốt, giáo dục kĩ năng sống, phẩm chất cho học sinh. Cùng chi hội phụ huynh của lớp thăm hỏi học sinh đau ốm kịp thời, học sinh gặp khó khăn thường xuyên, học sinh nghèo... để có hướng giúp đỡ. Thường xuyên thông tin để phụ huynh biết tình hình học tập của con em mình từ đó có định hướng để giáo dục tốt con em.

Phát huy tối đa vai trò của các tổ chức trong nhà trường đặc biệt là Đội TNTP Hồ Chí Minh.

+ Bám sát kế hoạch Đội, phối hợp với tổng phụ trách và các lớp trong khối, trong trường tạo ra các sân chơi bổ ích thiết thực cho học sinh.

+ Thường xuyên kiểm tra nhắc nhở việc giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường sạch sẽ.

+ Cùng tham gia lao động và hướng dẫn học sinh trong các buổi lao động.

2.4.Kết quả thực hiện:   

Qua quá trình nghiên cứu và áp dụng vào thực tiễn, đề tài đã mang lại hiệu quả cao. Kết quả dạy và học có sự chuyển biến rõ rệt. Bước đầu góp phần vào việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học.

Học sinh: hứng thú học tập, các em có nhiều tiến bộ rõ rệt trong học tập cũng như rèn luyện năng lực, phẩm chất. Các em thi đua nhau thực hiện tốt các hoạt động mà giáo viên đưa ra. Các em tập trung trong giờ học, đã có động cơ, tích cực trong học tập và sinh hoạt. Học sinh phát huy được năng lực, tư duy sáng tạo, mạnh dạn, tự tin trong học tập. Giao tiếp giữa cô và trò rất gần gũi. Trong tiết học các em tập trung, chú ý, hào hứng trong học tập. Lớp có nề nếp tốt trong trường. Lớp tôi trong năm học qua cũng đã đạt được nhiều thành tích trong các mặt học tập, phong trào: Giao lưu Nét chữ - Nết người cấp trường đạt 1 em, thi Violympic Toán cấp trường đạt 7 em.

Phụ huynh: tin tưởng, yên tâm đối với việc dạy bảo của giáo viên. Bên cạnh đó, phụ huynh cũng thường xuyên theo dõi được việc học hành, phẩm chất của con em và có nhiều sự hỗ trợ đối với giáo viên. Phụ huynh cũng cảm thấy phấn khởi khi thấy con em mình được giáo viên quan tâm, các em có nhiều tiến bộ, các em ngày càng hoàn thiện và thành những đứa trẻ ngoan, học tốt.

Bản thân giáo viên khi thấy lớp mình đạt được những mục tiêu mà mình đề ra là một sự thành công lớn. Nhìn các em vui khi nhận bông hoa thi đua, quà tặng, thấy các em hăng hái thi đua học tốt, tích cực hoạt động phong trào tôi thực sự thấy hạnh phúc, thấy vui cùng niềm vui của các em và sự phấn khởi của phụ huynh học sinh. Đó chính là thành quả to lớn nhất mà người giáo viên nào cũng mong muốn đạt được.

Học sinh thực sự là trung tâm trong quá trình dạy học, các em đã có động cơ, tích cực trong học tập và sinh hoạt. Học sinh phát huy được năng lực, tư duy sáng tạo, tự tin trong học tập. Đề tài đã góp phần hạn chế được  những vi phạm  mà học sinh thường mắc phải, từng bước đẩy lùi được thực trạng học sinh bỏ học, học sinh chưa hoàn thành và góp phần nâng cao chất lượng học tập. Bên cạnh đó, đề tài đã bổ sung thêm vốn kinh nghiệm cho tôi trong quá trình giảng dạy, bổ sung nguồn tư liệu tham khảo cho giáo viên về các biện pháp nhằm làm tốt công tác chủ nhiệm đối với học sinh lớp Bốn.

      Cụ thể kết quả cuối HKI năm học 2021 – 2022 như sau:

  • Đánh giá định kỳ các môn học (Cuối HKI)                             

Môn học

Hoàn thành tốt

Hoàn thành

Chưa hoàn thành

Ghi chú

SL

TL

SL

TL

SL

TL

 

1.Tiếng Việt

10

30,3

23

69,7

 

 

 

2.Toán

18

54,5

15

45,5

 

 

 

3.Đạo đức

12

36,3

21

63,7

 

 

 

4.Khoa học

10

30,3

23

69,7

 

 

 

5.LS&ĐL

10

30,3

23

69,7

 

 

 

6.Âm nhạc

11

33,2

22

66,8

 

 

 

7.Mĩ thuật

11

33,2

22

66,8

 

 

 

8.Kỹ thuật

15

45,4

18

54,6

 

 

 

9.Thể dục

15

45,4

18

54,6

 

 

 

10.Tiếng Anh

11

33,2

22

66,8

 

 

 

11.Tin học

10

30,3

23

69,7

 

 

 

  • Đánh giá về Năng lực, Phẩm chất (Cuối HKI)

Năm học

2021-2022

 

Xếp loại từng

lĩnh vực

 

Mức đạt được

Tốt

Đạt

CCG

SL

TL

(%)

SL

TL

(%)

SL

TL

(%)

Cuối HKI

Năng

lực

Tự phục vụ, tự quản

17

51,5

16

48,5

 

 

Hợp tác

17

51,5

16

48,5

 

 

Tự học và GQVĐ

17

51,5

16

48,5

 

 

P. chất

 

Chăm học, chăm làm

17

51,5

16

48,5

 

 

Tự tin, trách nhiệm

17

51,5

16

48,5

 

 

Trung thực, kỉ luật

17

51,5

16

48,5

 

 

Đoàn kết, yêu thương

17

51,5

16

48,5

 

 

 

 

          3. Kết luận và kiến nghị

       3.1 Những kết luận đánh giá cơ bản về sáng kiến:

Làm tốt công tác chủ nhiệm có ý nghĩa rất lớn trong quá trình giáo dục học sinh - nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi học sinh có thể tiếp cận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau.

Việc giáo dục học sinh lớp Bốn là cả một quá trình đòi hỏi phải có kế hoạch cụ thể và thời gian cũng như tâm huyết của người giáo viên chủ nhiệm. Để làm tốt được việc này thì giáo viên chủ nhiệm ngoài năng lực sư phạm ra, cần phải có tấm lòng yêu nghề mến trẻ, nắm được tâm sinh lí của trẻ, thấu hiểu, yêu thương và tôn trọng trẻ. Có như vậy mới hình thành cho trẻ những chuẩn mực, thói quen ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức của học sinh.

Muốn giáo dục cho học sinh giáo viên cần phải là người chuẩn mực, là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Giáo viên chủ nhiệm cần có một nhận thức đúng đắn và sâu sắc về vị trí, yêu cầu đối với chính bản thân mình và công việc. Không chỉ trang bị cho mình những kiến thức cần thiết cho việc giảng dạy, những vốn sống sâu sắc về con người, cuộc sống… Người giáo viên chủ nhiệm còn cần phải rèn luyện cho chính mình đạt những phẩm chất đạo đức phù hợp với hoạt động sư phạm để trên cơ sở đó, mới có thể nhắc nhở, uốn nắn học sinh. Từ hành vi, ngôn ngữ, cách cư xử, cách suy nghĩ, đánh giá những sự việc trong cuộc sống, những thói quen trong sinh hoạt… Tất cả luôn cần được người giáo viên chủ nhiệm tự xem xét, điều chỉnh để có thể không ngừng hoàn thiện mình trong mắt học trò. Giáo viên chủ nhiệm cần gương mẫu, chuẩn mực trong lời nói và việc làm để học sinh lấy đó làm gương mà noi theo. Ví dụ: GVCN khó có thể yêu cầu các em gọn gàng, ngăn nắp, sống đẹp nếu bản thân người giáo viên chủ nhiệm chưa là một “ hình mẫu” đối với các em.

Quá trình tìm hiểu phải tìm hiểu kỹ lưỡng, chính xác và chín chắn. Tìm hiểu về gia đình, về xã hội xung quanh, quan hệ bạn bè. Thực hiện xem học bạ ở các năm học trước, hoặc hỏi thăm giáo viên chủ nhiệm cũ.

Với một học sinh chây lười, một số học sinh chưa ngoan… Chúng ta không nên ảo tưởng là các em sẽ tiến bộ ngay sau vài lần nhắc nhở hay xử phạt của giáo viên chủ nhiệm. Có khi, các em vẫn tiếp tục lười, tiếp tục phạm lỗi với mức độ liên tục hơn, nghiêm trọng hơn - như một cách thách thức, một cách khẳng định mình với bạn bè, với thầy cô giáo, với mọi người. Chính ở những lúc này, người giáo viên chủ nhiệm cần thể hiện rõ bản lĩnh và năng lực sư phạm - trong đó - có cả kĩ năng kiềm chế của mình.

Để khẳng định mình, các em dễ có những hành xử bộc phát, bất ngờ mà chính các em cũng chưa ý thức một cách đầy đủ hậu quả sẽ đến. Vì vậy, một sự định hướng đúng đắn để giúp các em hình thành tính cách của mình sau này là hết sức quan trọng khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường. Không chỉ truyền đạt kiến thức trong học tập, các em cần được trao đổi mọi điều về chính bản thân, về những gì chân - thiện - mỹ trong cuộc sống.

Cần nhận thức rõ, giáo dục một con người là một quá trình không có điểm cuối cùng. Đó là công việc kéo dài cả một đời người. Vì thế, người giáo viên chủ nhiệm không bao giờ được chủ quan, nóng vội. Trước mọi sai lầm, vi phạm của học sinh, giáo viên chủ nhiệm cần hết sức bình tĩnh, bao dung và độ lượng để xem xét, giải quyết, xử lí vấn đề.

Giáo viên chủ nhiệm có “quyền lực” trong tay nhưng không phải vì thế mà lúc nào cũng lạm dụng nó. Phải biết khi nào cứng rắn và khi nào mềm dẻo để xử lý các tình huống. Vì thế, ngoài năng lực chuyên môn giáo viên chủ nhiệm còn là một nhà tâm lý giỏi, hiểu thấu đáo những suy nghĩ, tâm tư của học trò. Nhiều lúc, giáo viên chủ nhiệm phải tự đặt mình vào vị trí của học sinh để hiểu được hành vi và thái độ của học sinh với cương vị là người trong cuộc.

Mặt khác, giáo viên chủ nhiệm phải biết hòa đồng, thân thiện với học sinh và điều quan trọng nhất là phải luôn được các em yêu quý, trân trọng. Không chỉ có tình yêu thương, giáo viên chủ nhiệm cần xử lý linh hoạt các tình huống xảy ra trên lớp. Cách xử lý thuyết phục được các em là phải đạt tình và thấu lý với những giải pháp tối ưu nhất, được cả tập thể tán thành và ủng hộ. Như vậy, lúc này giáo viên chủ nhiệm đóng vai như một quan tòa có lập luận sắc bén, biết cầm cân nảy mực và đặc biệt là yêu thương, đối xử công bằng với tất cả học sinh trong lớp,  không thiên vị một ai.

Vấn đề giáo dục phẩm đạo đức cho học sinh lớp Bốn trong nhà trường luôn luôn là đề tài nóng hổi, được sự quan tâm của hầu hết thầy cô, gia đình, địa phương và các đoàn thể xã hội đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm.

Để giáo dục học sinh trở thành học sinh ngoan,hiền, cần phải có sự phối hợp giữa gia đình, xã hội và nhà trường. Vai trò giáo dục của gia đình và xã hội giữ vị trí quan trọng, vai trò giáo dục của nhà trường mang yếu tố quyết định giúp các em có thể định hướng đúng đắn, để sau này trở thành những người con có ích cho xã hội, hiếu thảo trong gia đình. Chính các em sẽ là tấm gương tốt cho các em học sinh khác và người Thầy sẽ luôn lấy các em ra làm ví dụ khi giáo dục các em khác.

Trên đây là một số biện pháp tích cực trong công tác chủ nhiệm lớp ở những năm tôi làm công tác chủ nhiệm. Với những kinh nghiệm này sẽ giúp cho các em có những năng lực, phẩm chất tốt của người học sinh và hiệu quả học tập của các em ngày càng cải thiện.

 3.2 Các đề xuất, kiến nghị:

Về phía nhà trường, để làm tốt công tác giáo dục toàn diện cho học sinh, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận, giữa các thầy cô. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm là rất quan trọng. Trong lớp, giáo viên chủ nhiệm như là cha mẹ của các em, cần có tiếng nói điều chỉnh kịp thời các hành vi chưa đúng của các em, là tấm gương cho các em noi theo.

Trên đây là một số biện pháp làm tốt công tác chủ nhiệm đối với học sinh lớp Bốn nâng cao chất lượng giáo dục trong công tác chủ nhiệm lớp theo suy nghĩ chủ quan của bản thân tôi. Rất mong sự đóng góp ý kiến của đồng nghiệp để chúng ta cùng hoàn thiện một cách cụ thể các giải pháp giáo dục, nhằm xây dựng nhà trường thành môi trường giáo dục thân thiện tích cực, giúp các em phát triển toàn diện và bền vững.

                                                           Phước Quang, ngày 10 tháng 3 năm 2022

                                                                            Người thực hiện

                                                                                      


Tập tin đính kèm
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay : 22
Tháng 08 : 647